ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG KHẨU TRANG VÀ NƯỚC RỬA TAY TRÊN THỊ TRƯỜNG - CHUNG TAY PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19

Tình hình dịch bệnh liên quan đến virut Covid-19 ở các quốc gia trên thế giới và Việt Nam thời gian gần đây gia tăng khiến cho nhu cầu của người dân về khẩu trang và nước rửa tay để phòng dịch ngày càng tăng. Trước tình hình đó, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 870/QĐ-BYT ngày 12/3/2020 về việc hướng dẫn kỹ thuật tạm thời cho khẩu trang vải kháng giọt bắn, kháng khuẩn. Theo đó, một trong những yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật quan trọng của khẩu trang vải ngoài khả năng bảo vệ chống nhiễm khuẩn, là phải đáp ứng giới hạn cho phép của các nguyên tố kim loại nặng độc hại có trong vải bao gồm Chì (Pb), Cadmi (Cd), Asen (As), Thủy ngân (Hg) và Antimon (Sb) như với khẩu trang y tế thông thường (Bảng 1).

Bảng 1. Giới hạn cho phép các nguyên tố kim loại nặng có trong vải không dệt

Nguyên tố

Giới hạn cho phép, không lớn hơn mg/kg sản phẩm theo TCVN 8389-1:2010 và TCVN 8389-2:2010

Asen (As)

0,17

Chì (Pb)

1,0

Thuỷ ngân (Hg)

0,12

Antimon (Sb)

0,1

Cadimi (Cd)

0,1

 

Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia đã phát triển phương pháp kiểm nghiệm đánh giá chất lượng kỹ thuật của khẩu trang ngay từ những ngày đầu khi xuất hiện dịch bệnh nhằm phục vụ công tác quản lý Nhà nước và đáp ứng nhu cầu của các đơn vị sản xuất, phân phối sản phẩm khẩu trang. Các chỉ tiêu kiểm nghiệm hóa học và sinh học trong khẩu trang đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm tại Quyết định số 455/TĐC-HCHQ ngày 25/02/2020.

Phương pháp xác định hàm lượng các nguyên tố kim loại nặng trong khẩu trang và nước rửa tay được thực hiện trên thiết bị quang phổ khối lượng plasma cao tần cảm ứng ICP-MS, là thiết bị hiện đại nhất hiện nay trong ứng dụng phân tích các nguyên tố kim loại nặng (Hình 1).

Dam-bao-chat-luong-khau-trang-va-nuoc-rua-tay-tren-thi-truong

Hình 1. Thiết bị quang phổ khối lượng plasma ICP-MS

Kỹ thuật ICP-MS cho độ nhạy, độ chính xác cao hơn các thiết bị quang phổ khác như AAS hay ICP-OES, đặc biệt là có khả năng phân tích đồng thời các nguyên tố kim loại nặng ở cấp hàm lượng vết và siêu vết. Vì vậy, thời gian kiểm nghiệm được rút ngắn tối đa chỉ từ 24 – 48 giờ sau khi nhận mẫu.

Phương pháp thử khả năng bảo vệ chống nhiễm khuẩn, độ vô khuẩn của khẩu trang được thực hiện theo các tiêu chuẩn TCVN 8389-2:2010 và BS EN 14683:2019, với hệ thống DSI tạo dòng khí aerosol vi khuẩn nhằm mục đích tạo dòng vi khuẩn ổn định. Các yêu cầu kỹ thuật về khả năng bảo vệ chống nhiễm khuẩn và độ vô khuẩn được đánh giá dựa trên các tiêu chí nêu trong Bảng 2.

Bảng 2. Yêu cầu kỹ thuật đối với khẩu trang (theo BS EN 14683:2019)

Thử nghiệm

Loại I a

Loại II

Loại IIR

Hiệu quả lọc vi khuẩn (%)

≥ 95

≥ 98

≥ 98

Độ vô khuẩn (cfu/g)

≤ 30

≤ 30

≤ 30

Khẩu trang loại I chỉ được dùng cho bệnh nhân và những cá nhân nhằm giảm nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm  trong dịch bệnh hoặc đại dịch. Khẩu trang loại I không được dùng cho cán bộ y tế hoặc cán bộ tham gia phòng chống dịch.

Dam-bao-chat-luong-khau-trang-va-nuoc-rua-tay-tren-thi-truong-2

Hình 2. Hệ thống thử khả năng bảo vệ chống nhiễm khuẩn

Song song với kiểm nghiệm khả năng kháng khuẩn của khẩu trang, độ diệt khuẩn của các loại nước rửa tay, gel rửa tay khô trên thị trường hiện nay cũng đang là một mối quan tâm lớn trong công tác phòng tránh dịch. Theo tiêu chuẩn BS EN 01499-2013 (Phương pháp và yêu cầu thử nghiệm nước rửa tay diệt khuẩn), khả năng diệt khuẩn của các sản phẩm nước rửa tay được thử nghiệm và đánh giá dựa theo số liệu của sản phẩm diệt khuẩn tiêu chuẩn đã được thẩm định theo trong tiêu chuẩn BS EN 01499-2013.

Ngoài kiểm nghiệm các chỉ tiêu kim loại nặng và khả năng kháng khuẩn của khẩu trang, Viện kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia cũng đang thực hiện kiểm nghiệm các chỉ tiêu có trong thành phần của các sản phẩm nước rửa tay như: hàm lượng ethanol, hàm lượng methanol, hàm lượng isopropanol, hàm lượng didecyldimethyl ammonium chloride, hàm lượng chlorhexidine digluconate … Bên cạnh đó, Viện cũng thực hiện kiểm nghiệm các chỉ tiêu hóa hóa học khác để đánh giá tính an toàn của các dụng cụ, sản phẩm hỗ trợ phòng dịch như: hàm lượng formaldehyde trong khẩu trang vải, hàm lượng methanol hay các chất gây kích ứng da trong các sản phẩm mỹ phẩm, nước rửa tay nhằm đảm bảo các sản phẩm khẩu trang và nước rửa tay được đưa ra thị trường đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng, phục vụ người dân trong việc phòng chống Covid-19.